BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

TÀI NGUYÊN SỐ THƯ VIỆN TH-THCS HÀNG TRẠM

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

SÁCH ĐIỆN TỬ - STK

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    GenhBan_do_34_tinh_thanh_Viet_Nam.jpg Z6532780773094_6501b65c105f4d85d97d077fcfd95fa1.jpg Z6532780658945_655fa8eb8df9db728181ab169eaf7db3.jpg Z6533782820890_a5bc5a8eee9b1ac2e11d65f1d44d7a0d.jpg Z6532780644832_72138141d8b368f4e5d4dcedb0a21456.jpg Z6532389773372_fc2ed796477bd47e23d3841496621bb6.jpg Z6118965258720_a797605bb4315bd324439b9f4d9f9b21.jpg Z6118965385232_46ffb33e72ab3a1528fc5e6d66ebe269.jpg Tiet_doc_Tv_2024.flv Z6119878121711_1c2d0e0364f862a39c8cc2a5b651fd62.jpg Z6144742708733_1bd09555de40762d57970147331ab8ac.jpg Z6144742719591_efd9b60d643672afa7ba6c795ae4daaf.jpg Z6144751315135_7493509efcbad22d1956301ab92c80e9.jpg Z6118965404912_fbc7ad5e917fe16282f5e80be73f8cdb.jpg Z6118965277805_857afd13ca36e2f0154fcd9f35dbadd9.jpg Z6119872918680_2405431e8703337524ad23bf8a4369a4.jpg Z6119819763088_9af1783165d6494f5013789d94068f9a.jpg Z6119813083950_63a34253f58381481a1854eb24710432.jpg Z6118965388152_ff452cfb06f55debef28ef01b2c5cad7.jpg

    BÀI CA THƯ VIỆN

    SÁCH ĐIỆN TỬ - SÁCH BÁC HỒ

    SÁCH ĐIỆN TỬ - SGK

    THƯ VIỆN TRƯỜNG TH -THCS HÀNG TRẠM MỞ RA 1 CÁNH CỬA DIỆU KỲ

    Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    NGÀY TẾT QUÊ EM

    Giáo trình triếc học Mác- Lênin

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Bùi Thị Thêu
    Ngày gửi: 08h:35' 18-02-2025
    Dung lượng: 2.9 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 1 người (Bùi Thị Thêu)
    Bộ giáo dục và đào tạo

    Giáo trình
    Triết học mác - lênin
    (Dùng trong các trường đại học, cao đẳng)
    (Tái bản lần thứ ba có sửa chữa, bổ sung)

    Đồng chủ biên:
    GS, TS. Nguyễn Ngọc Long - GS, TS. Nguyễn Hữu Vui
    Tập thể tác giả:
    PGS. TS. Vũ Tình
    PGS.TS. Trần Văn Thụy
    GS, TS. Nguyễn Hữu Vui
    GS, TS. Nguyễn Ngọc Long
    TS. Vương Tất Đạt
    TS. Dương Văn Thịnh
    PGS, TS. Đoàn Quang Thọ
    TS. Nguyễn Như Hải
    PGS, TS. Trương Giang Long
    PGS.TS. Đoàn Đức Hiếu
    TS. Phạm Văn Sinh
    Th.S. Vũ Thanh Bình
    CN. Nguyễn Đăng Quang

    1

    Phần I
    Khái lược về triết học và lịch sử triết học
    Chương I
    Khái lược về Triết học
    I- Triết học là gì ?
    1. Triết học và đối tượng của triết học
    a) Khái niệm "Triết học"
    Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian
    (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh
    cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp. ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học
    có gốc ngôn ngữ là chữ triết (
    ); người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự
    miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu
    biết sâu sắc của con người.
    ở ấn Độ, thuật ngữ dar'sana (triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang
    hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ
    phải.
    ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp
    cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người
    Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm
    kiếm chân lý của con người.
    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là
    hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại
    với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.
    Đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm
    những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một
    chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói
    chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể
    hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.
    2

    Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của
    con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.
    Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song,
    với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong
    những điều kiện nhất định sau đây:
    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được
    cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.
    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên
    cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và
    triết học ra đời.
    Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực
    tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    b) Đối tượng của triết học
    Trong quá trình phát triển, đối tượng của triết học thay đổi theo từng giai đoạn
    lịch sử.
    Ngay từ khi mới ra đời, triết học được xem là hình thái cao nhất của tri thức, bao
    hàm trong nó tri thức về tất cả các lĩnh vực không có đối tượng riêng. Đây là nguyên
    nhân sâu xa làm nảy sinh quan niệm cho rằng, triết học là khoa học của mọi khoa
    học, đặc biệt là ở triết học tự nhiên của Hy Lạp cổ đại. Thời kỳ này, triết học đã đạt
    được nhiều thành tựu rực rỡ mà ảnh hưởng của nó còn in đậm đối với sự phát triển của
    tư tưởng triết học ở Tây Âu.
    Thời kỳ trung cổ, ở Tây Âu khi quyền lực của Giáo hội bao trùm mọi lĩnh vực đời
    sống xã hội thì triết học trở thành nô lệ của thần học. Nền triết học tự nhiên bị thay bằng
    nền triết học kinh viện. Triết học lúc này phát triển một cách chậm chạp trong môi
    trường chật hẹp của đêm trường trung cổ.
    Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào thế kỷ XV, XVI đã tạo một cơ sở tri thức
    vững chắc cho sự phục hưng triết học. Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đặc biệt yêu
    cầu của sản xuất công nghiệp, các bộ môn khoa học chuyên ngành nhất là các khoa học
    thực nghiệm đã ra đời với tính cách là những khoa học độc lập. Sự phát triển xã hội
    được thúc đẩy bởi sự hình thành và củng cố quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, bởi
    những phát hiện lớn về địa lý và thiên văn cùng những thành tựu khác của cả khoa học
    tự nhiên và khoa học nhân văn đã mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển triết học.
    Triết học duy vật chủ nghĩa dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã phát
    triển nhanh chóng trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo và đã đạt tới
    đỉnh cao mới trong chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII - XVIII ở Anh, Pháp, Hà Lan, với
    những đại biểu tiêu biểu như Ph.Bêcơn, T.Hốpxơ (Anh), Điđrô, Henvêtiuýt (Pháp),
    Xpinôda (Hà Lan)... V.I.Lênin đặc biệt đánh giá cao công lao của các nhà duy vật
    Pháp thời kỳ này đối với sự phát triển chủ nghĩa duy vật trong lịch sử triết học trước
    3

    Mác. "Trong suốt cả lịch sử hiện đại của châu Âu và nhất là vào cuối thế kỷ XVIII, ở
    nước Pháp, nơi đã diễn ra một cuộc quyết chiến chống tất cả những rác rưởi của thời
    trung cổ, chống chế độ phong kiến trong các thiết chế và tư tưởng, chỉ có chủ nghĩa duy
    vật là triết học duy nhất triệt để, trung thành với tất cả mọi học thuyết của khoa học tự
    nhiên, thù địch với mê tín, với thói đạo đức giả, v.v."1. Mặt khác, tư duy triết học cũng
    được phát triển trong các học thuyết triết học duy tâm mà đỉnh cao là triết học Hêghen,
    đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức.
    Sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành cũng từng bước làm
    phá sản tham vọng của triết học muốn đóng vai trò "khoa học của các khoa học". Triết
    học Hêghen là học thuyết triết học cuối cùng mang tham vọng đó. Hêghen tự coi triết
    học của mình là một hệ thống phổ biến của sự nhận thức, trong đó những ngành khoa học
    riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào triết học.
    Hoàn cảnh kinh tế - xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào đầu thế kỷ
    XIX đã dẫn đến sự ra đời của triết học Mác. Đoạn tuyệt triệt để với quan niệm "khoa
    học của các khoa học", triết học mácxít xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp
    tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật triệt để và
    nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.
    Triết học nghiên cứu thế giới bằng phương pháp của riêng mình khác với mọi
    khoa học cụ thể. Nó xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa ra một hệ
    thống các quan niệm về chỉnh thể đó. Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách tổng
    kết toàn bộ lịch sử của khoa học và lịch sử của bản thân tư tưởng triết học. Triết học là
    sự diễn tả thế giới quan bằng lý luận. Chính vì tính đặc thù như vậy của đối tượng triết
    học mà vấn đề tư cách khoa học của triết học và đối tượng của nó đã gây ra những cuộc
    tranh luận kéo dài cho đến hiện nay. Nhiều học thuyết triết học hiện đại ở phương Tây
    muốn từ bỏ quan niệm truyền thống về triết học, xác định đối tượng nghiên cứu riêng
    cho mình như mô tả những hiện tượng tinh thần, phân tích ngữ nghĩa, chú giải văn
    bản...
    Mặc dù vậy, cái chung trong các học thuyết triết học là nghiên cứu những vấn đề
    chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói
    chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh.

    2. Vấn đề cơ bản của triết học
    Triết học cũng như những khoa học khác phải giải quyết rất nhiều vấn đề có liên
    quan với nhau, trong đó vấn đề cực kỳ quan trọng là nền tảng và là điểm xuất phát để
    giải quyết những vấn đề còn lại được gọi là vấn đề cơ bản của triết học. Theo
    Ăngghen: "Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là
    vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại"1.
    1. V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, t.23, tr. 50.
    1. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.21, tr. 403.

    4

    Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học không chỉ xác định được nền tảng và điểm
    xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học mà nó còn là tiêu chuẩn để xác định
    lập trường, thế giới quan của các triết gia và học thuyết của họ.
    Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt, mỗi mặt phải trả lời cho một câu hỏi lớn.
    Mặt thứ nhất: Giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào
    quyết định cái nào?
    Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?
    Trả lời cho hai câu hỏi trên liên quan mật thiết đến việc hình thành các trường phái
    triết học và các học thuyết về nhận thức của triết học.

    II- Chức năng thế giới quan của triết học
    1. Triết học - hạt nhân lý luận của thế giới quan
    Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về bản thân
    con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới đó.
    Trong thế giới quan có sự hoà nhập giữa tri thức và niềm tin. Tri thức là cơ sở
    trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan, song nó chỉ gia nhập thế giới quan khi nó đã
    trở thành niềm tin định hướng cho hoạt động của con người.
    Có nhiều cách tiếp cận để nghiên cứu về thế giới quan. Nếu xét theo quá trình phát
    triển thì có thể chia thế giới quan thành ba loại hình cơ bản: Thế giới quan huyền thoại,
    thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết học.
    Thế giới quan huyền thoại là phương thức cảm nhận thế giới của người nguyên
    thủy. ở thời kỳ này, các yếu tố tri thức và cảm xúc, lý trí và tín ngưỡng, hiện thực và
    tưởng tượng, cái thật và cái ảo, cái thần và cái người, v.v. của con người hoà quyện vào
    nhau thể hiện quan niệm về thế giới.
    Trong thế giới quan tôn giáo, niềm tin tôn giáo đóng vai trò chủ yếu; tín ngưỡng
    cao hơn lý trí, cái ảo lấn át cái thực, cái thần vượt trội cái người.
    Khác với huyền thoại và giáo lý của tôn giáo, triết học diễn tả quan niệm của con
    người dưới dạng hệ thống các phạm trù, quy luật đóng vai trò như những bậc thang trong
    quá trình nhận thức thế giới. Với ý nghĩa như vậy, triết học được coi như trình độ tự
    giác trong quá trình hình thành và phát triển của thế giới quan. Nếu thế giới quan được
    hình thành từ toàn bộ tri thức và kinh nghiệm sống của con người; trong đó tri thức của
    các khoa học cụ thể là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành những quan niệm nhất định về
    từng mặt, từng bộ phận của thế giới, thì triết học, với phương thức tư duy đặc thù đã tạo
    nên hệ thống lý luận bao gồm những quan niệm chung nhất về thế giới với tư cách là
    một chỉnh thể. Như vậy, triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan; triết học giữ vai
    trò định hướng cho quá trình củng cố và phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi
    cộng đồng trong lịch sử.
    5

    Những vấn đề được triết học đặt ra và tìm lời giải đáp trước hết là những vấn đề
    thuộc về thế giới quan. Thế giới quan đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc sống
    của con người và xã hội loài người. Tồn tại trong thế giới, dù muốn hay không con
    người cũng phải nhận thức thế giới và nhận thức bản thân mình. Những tri thức này dần
    dần hình thành nên thế giới quan. Khi đã hình thành, thế giới quan lại trở thành nhân tố
    định hướng cho quá trình con người tiếp tục nhận thức thế giới. Có thể ví thế giới quan
    như một "thấu kính", qua đó con người nhìn nhận thế giới xung quanh cũng như tự xem
    xét chính bản thân mình để xác định cho mình mục đích, ý nghĩa cuộc sống và lựa chọn
    cách thức hoạt động đạt được mục đích, ý nghĩa đó. Như vậy thế giới quan đúng đắn là
    tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực và trình độ phát triển của thế giới quan là tiêu
    chí quan trọng về sự trưởng thành của mỗi cá nhân cũng như của mỗi cộng đồng xã hội
    nhất định.
    Triết học ra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới
    quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và
    tri thức do các khoa học đưa lại. Đó là chức năng thế giới quan của triết học.
    Các trường phái chính của triết học là sự diễn tả thế giới quan khác nhau, đối lập
    nhau bằng lý luận; đó là các thế giới quan triết học, phân biệt với thế giới quan thông
    thường.

    2. Chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm và thuyết không thể biết
    a) Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
    Việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học đã chia các nhà triết học
    thành hai trường phái lớn. Những người cho rằng vật chất, giới tự nhiên là cái có trước và
    quyết định ý thức của con người được coi là các nhà duy vật; học thuyết của họ hợp thành
    các môn phái khác nhau của chủ nghĩa duy vật. Ngược lại, những người cho rằng, ý thức,
    tinh thần có trước giới tự nhiên được gọi là các nhà duy tâm; họ hợp thành các môn phái
    khác nhau của chủ nghĩa duy tâm.
    - Chủ nghĩa duy vật:
    Cho đến nay, chủ nghĩa duy vật đã được thể hiện dưới ba hình thức cơ bản: chủ
    nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chứng.
    + Chủ nghĩa duy vật chất phác là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy vật
    thời cổ đại. Chủ nghĩa duy vật thời kỳ này trong khi thừa nhận tính thứ nhất của vật chất
    đã đồng nhất vật chất với một hay một số chất cụ thể và những kết luận của nó mang
    nặng tính trực quan nên ngây thơ, chất phác. Tuy còn rất nhiều hạn chế, nhưng chủ
    nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại về cơ bản là đúng vì nó đã lấy giới tự nhiên để giải
    thích giới tự nhiên, không viện đến Thần linh hay Thượng đế.
    + Chủ nghĩa duy vật siêu hình là hình thức cơ bản thứ hai của chủ nghĩa duy vật,
    thể hiện khá rõ ở các nhà triết học thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII và đỉnh cao vào thế kỷ thứ
    XVII, XVIII. Đây là thời kỳ mà cơ học cổ điển thu được những thành tựu rực rỡ nên trong
    6

    khi tiếp tục phát triển quan điểm chủ nghĩa duy vật thời cổ đại, chủ nghĩa duy vật giai
    đoạn này chịu sự tác động mạnh mẽ của phương pháp tư duy siêu hình, máy móc phương pháp nhìn thế giới như một cỗ máy khổng lồ mà mỗi bộ phận tạo nên nó luôn
    ở trong trạng thái biệt lập và tĩnh tại. Tuy không phản ánh đúng hiện thực nhưng chủ nghĩa
    duy vật siêu hình cũng đã góp phần không nhỏ vào việc chống lại thế giới quan duy tâm
    và tôn giáo, điển hình là thời kỳ chuyển tiếp từ đêm trường trung cổ sang thời phục
    hưng.
    + Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩa duy vật,
    do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng vào những năm 40 của thế kỷ XIX, sau đó được
    V.I.Lênin phát triển. Với sự kế thừa tinh hoa của các học thuyết triết học trước đó và sử
    dụng khá triệt để thành tựu của khoa học đương thời, chủ nghĩa duy vật biện chứng, ngay
    từ khi mới ra đời đã khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại,
    chủ nghĩa duy vật siêu hình và là đỉnh cao trong sự phát triển của chủ nghĩa duy vật. Chủ
    nghĩa duy vật biện chứng không chỉ phản ánh hiện thực đúng như chính bản thân nó tồn
    tại mà còn là một công cụ hữu hiệu giúp những lực lượng tiến bộ trong xã hội cải tạo
    hiện thực ấy.
    - Chủ nghĩa duy tâm:
    Chủ nghĩa duy tâm chia thành hai phái: chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa
    duy tâm khách quan.
    + Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con người.
    Trong khi phủ nhận sự tồn tại khách quan của hiện thực, chủ nghĩa duy tâm chủ quan
    khẳng định mọi sự vật, hiện tượng chỉ là phức hợp những cảm giác của cá nhân, của chủ
    thể.
    + Chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức nhưng
    theo họ đấy là là thứ tinh thần khách quan có trước và tồn tại độc lập với con người.
    Thực thể tinh thần khách quan này thường mang những tên gọi khác nhau như ý niệm,
    tinh thần tuyệt đối, lý tính thế giới, v.v..
    Chủ nghĩa duy tâm triết học cho rằng ý thức, tinh thần là cái có trước và sản
    sinh ra giới tự nhiên; như vậy là đã bằng cách này hay cách khác thừa nhận sự sáng tạo
    ra thế giới. Vì vậy, tôn giáo thường sử dụng các học thuyết duy tâm làm cơ sở lý luận,
    luận chứng cho các quan điểm của mình. Tuy nhiên, có sự khác nhau giữa chủ nghĩa
    duy tâm triết học với chủ nghĩa duy tâm tôn giáo. Trong thế giới quan tôn giáo, lòng
    tin là cơ sở chủ yếu và đóng vai trò chủ đạo. Còn chủ nghĩa duy tâm triết học lại là sản
    phẩm của tư duy lý tính dựa trên cơ sở tri thức và lý trí.
    Về phương diện nhận thức luận, sai lầm của chủ nghĩa duy tâm bắt nguồn từ cách
    xem xét phiến diện, tuyệt đối hóa, thần thánh hóa một mặt, một đặc tính nào đó của quá
    trình nhận thức mang tính biện chứng của con người.
    Cùng với nguồn gốc nhận thức luận, chủ nghĩa duy tâm ra đời còn do nguồn gốc
    7

    xã hội. Sự tách rời lao động trí óc với lao động chân tay và địa vị thống trị của lao động
    trí óc đối với lao động chân tay trong các xã hội cũ đã tạo ra quan niệm về vai trò quyết
    định của nhân tố tinh thần. Các giai cấp thống trị và những lực lượng xã hội phản động
    ủng hộ, sử dụng chủ nghĩa duy tâm làm nền tảng lý luận cho những quan điểm chính trị
    - xã hội của mình.
    Một học thuyết triết học thừa nhận chỉ một trong hai thực thể (vật chất hoặc tinh
    thần) là nguồn gốc của thế giới được gọi là nhất nguyên luận (nhất nguyên luận duy vật
    hoặc nhất nguyên luận duy tâm).
    Trong lịch sử triết học cũng có những nhà triết học xem vật chất và tinh thần là
    hai nguyên thể tồn tại độc lập, tạo thành hai nguồn gốc của thế giới; học thuyết triết học
    của họ là nhị nguyên luận. Lại có nhà triết học cho rằng vạn vật trong thế giới là do vô
    số nguyên thể độc lập tạo nên; đó là đa nguyên luận trong triết học (phân biệt với
    thuyết đa nguyên chính trị). Song đó chỉ là biểu hiện tính không triệt để về lập trường
    thế giới quan; rốt cuộc chúng thường sa vào chủ nghĩa duy tâm.
    Như vậy, trong lịch sử tuy những quan điểm triết học biểu hiện đa dạng nhưng suy
    cho cùng, triết học chia thành hai trường phái chính: chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy
    tâm. Lịch sử triết học cũng là lịch sử đấu tranh của hai trường phái này.

    b) Thuyết không thể biết
    Đây là kết quả của cách giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học. Đối
    với câu hỏi "Con người có thể nhận thức được thế giới hay không?", tuyệt đại đa số các
    nhà triết học (cả duy vật và duy tâm) trả lời một cách khẳng định: thừa nhận khả năng nhận
    thức thế giới của con người. Học thuyết triết học phủ nhận khả năng nhận thức của con
    người được gọi là thuyết không thể biết. Theo thuyết này, con người không thể hiểu được
    đối tượng hoặc có hiểu chăng chỉ là hiểu hình thức bề ngoài vì tính xác thực các hình ảnh
    về đối tượng mà các giác quan của con người cung cấp trong quá trình nhận thức không
    bảo đảm tính chân thực.
    Tính tương đối của nhận thức dẫn đến việc ra đời của trào lưu hoài nghi luận từ
    triết học Hy Lạp cổ đại. Những người theo trào lưu này nâng sự hoài nghi lên thành
    nguyên tắc trong việc xem xét tri thức đã đạt được và cho rằng con người không thể đạt
    đến chân lý khách quan. Tuy còn những mặt hạn chế nhưng Hoài nghi luận thời phục
    hưng đã giữ vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chống hệ tư tưởng và quyền uy của
    Giáo hội thời trung cổ, vì hoài nghi luận thừa nhận sự hoài nghi đối với cả Kinh thánh
    và các tín điều tôn giáo. Từ hoài nghi luận (scepticisme) một số nhà triết học đã đi đến
    thuyết không thể biết (agnosticisme) mà tiêu biểu là Cantơ ở thế kỷ XVIII.

    III- Siêu hình và biện chứng
    Các khái niệm "biện chứng" và "siêu hình" trong lịch sử triết học được dùng theo
    một số nghĩa khác nhau. Còn trong triết học hiện đại, đặc biệt là triết học mácxít, chúng
    được dùng, trước hết để chỉ hai phương pháp chung nhất đối lập nhau của triết học.
    8

    Phương pháp biện chứng phản ánh "biện chứng khách quan" trong sự vận động, phát
    triển của thế giới. Lý luận triết học của phương pháp đó được gọi là "phép biện chứng".

    1. Sự đối lập giữa phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng
    a) Phương pháp siêu hình
    Phương pháp siêu hình là phương pháp:
    + Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi các chỉnh thể
    khác và giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối.
    + Nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại; nếu có sự biến đổi thì đấy chỉ là sự
    biến đổi về số lượng, nguyên nhân của sự biến đổi nằm ở bên ngoài đối tượng.
    Phương pháp siêu hình làm cho con người "chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt
    mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại
    của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật
    ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của
    những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng"1.
    Phương pháp siêu hình bắt nguồn từ chỗ muốn nhận thức một đối tượng nào trước
    hết con người cũng phải tách đối tượng ấy ra khỏi những mối liên hệ và nhận thức nó ở
    trạng thái không biến đổi trong một không gian và thời gian xác định. Song phương
    pháp siêu hình chỉ có tác dụng trong một phạm vi nhất định bởi hiện thực không rời rạc
    và ngưng đọng như phương pháp này quan niệm.

    b) Phương pháp biện chứng
    Phương pháp biện chứng là phương pháp:
    + Nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng
    buộc nhau.
    + Nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi, nằm trong khuynh hướng
    chung là phát triển. Đây là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng mà
    nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn
    nội tại của chúng.
    Như vậy phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt. Nó thừa
    nhận trong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái "hoặc là... hoặc là..." còn có cả
    cái "vừa là... vừa là..." nữa; thừa nhận một chỉnh thể trong lúc vừa là nó lại vừa không
    phải là nó; thừa nhận cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau lại vừa gắn bó
    với nhau2.
    Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại. Nhờ vậy,
    phương pháp tư duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức
    1
    2

    Sđd, t.20, tr. 37.
    Xem Sđd, tr. 696.

    9

    và cải tạo thế giới.

    2. Các giai đoạn phát triển cơ bản của phép biện chứng
    Cùng với sự phát triển của tư duy con người, phương pháp biện chứng đã qua ba
    giai đoạn phát triển, được thể hiện trong triết học với ba hình thức lịch sử của nó: phép
    biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật.
    + Hình thức thứ nhất là phép biện chứng tự phát thời cổ đại. Các nhà biện chứng cả
    phương Đông lẫn phương Tây thời kỳ này đã thấy các sự vật, hiện tượng của vũ trụ sinh
    thành, biến hóa trong những sợi dây liên hệ vô cùng tận. Tuy nhiên, những gì các nhà
    biện chứng hồi đó thấy được chỉ là trực kiến, chưa phải là kết quả của nghiên cứu và
    thực nghiệm khoa học.
    + Hình thức thứ hai là phép biện chứng duy tâm. Đỉnh cao của hình thức này được
    thể hiện trong triết học cổ điển Đức, người khởi đầu là Cantơ và người hoàn thiện là
    Hêghen. Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của tư duy nhân loại, các
    nhà triết học Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất
    của phương pháp biện chứng. Song theo họ biện chứng ở đây bắt đầu từ tinh thần và kết
    thúc ở tinh thần, thế giới hiện thực chỉ là sự sao chép ý niệm nên biện chứng của các nhà
    triết học cổ điển Đức là biện chứng duy tâm.
    + Hình thức thứ ba là phép biện chứng duy vật. Phép biện chứng duy vật được thể
    hiện trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng, sau đó được V.I.Lênin phát
    triển. C.Mác và Ph.Ăngghen đã gạt bỏ tính chất thần bí, kế thừa những hạt nhân hợp lý
    trong phép biện chứng duy tâm để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách
    là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất.

    3. Chức năng phương pháp luận của triết học
    Phương pháp luận là lý luận về phương pháp; là hệ thống các quan điểm chỉ đạo
    việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp.
    Xét phạm vi tác dụng của nó, phương pháp luận có thể chia thành ba cấp độ:
    Phương pháp luận ngành, phương pháp luận chung và phương pháp luận chung nhất.
    - Phương pháp luận ngành (còn gọi là phương pháp luận bộ môn) là phương pháp
    luận của một ngành khoa học cụ thể nào đó.
    - Phương pháp luận chung là phương pháp luận được sử dụng cho một số ngành
    khoa học.
    - Phương pháp luận chung nhất là phương pháp luận được dùng làm điểm xuất phát
    cho việc xác định các phương pháp luận chung, các phương pháp luận ngành và các
    phương pháp hoạt động khác của con người.
    Với tư cách là hệ thống tri thức chung nhất của con người về thế giới và vai trò
    của con người trong thế giới đó; với việc nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự
    nhiên, xã hội và tư duy, triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất.
    10

    Trong triết học Mác - Lênin, lý luận và phương pháp thống nhất hữu cơ với
    nhau. Phép biện chứng duy vật là lý luận khoa học phản ánh khái quát sự vận động và
    phát triển của hiện thực; do đó, nó không chỉ là lý luận về phương pháp mà còn là sự
    diễn tả quan niệm về thế giới, là lý luận về thế giới quan. Hệ thống các quan điểm của
    chủ nghĩa duy vật mácxít, do tính đúng đắn và triệt để của nó đem lại đã trở thành nhân tố
    định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, trở thành những nguyên tắc
    xuất phát của phương pháp luận.
    Bồi dưỡng thế giới quan duy vật và rèn luyện tư duy biện chứng, đề phòng và
    chống chủ nghĩa chủ quan, tránh phương pháp tư duy siêu hình vừa là kết quả, vừa là
    mục đích trực tiếp của việc học tập, nghiên cứu lý luận triết học nói chung, triết học
    Mác - Lênin nói riêng.

    Câu hỏi ôn tập
    1. Đặc trưng của tri thức triết học. Sự biến đổi đối tượng của triết học qua các giai
    đoạn lịch sử?
    2. Vấn đề cơ bản của triết học. Cơ sở để phân biệt chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa
    duy tâm trong triết học?
    3. Sự đối lập giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình?
    4. Vai trò của triết học trong đời sống xã hội?

    11

    Chương II
    Khái lược về lịch sử triết họctrước mác
    A. triết học phương đông
    I- triết học ấn Độ cổ, trung đại
    1. Hoàn cảnh ra đời triết học và đặc điểm của triết học ấn Độ cổ,
    trung đại
    Điều kiện tự nhiên: ấn Độ cổ đại là một lục địa lớn ở phía Nam châu á, có những
    yếu tố địa lý rất trái ngược nhau: Vừa có núi cao, lại vừa có biển rộng; vừa có sông ấn
    chảy về phía Tây, lại vừa có sông Hằng chảy về phía Đông; vừa có đồng bằng phì nhiêu,
    lại có sa mạc khô cằn; vừa có tuyết rơi giá lạnh, lại có nắng cháy, nóng bức...
    Điều kiện kinh tế - xã hội: Xã hội ấn Độ cổ đại ra đời sớm. Theo tài liệu khảo cổ
    học, vào khoảng thế kỷ XXV trước Công nguyên (tr. CN) đã xuất hiện nền văn minh
    sông ấn, sau đó bị tiêu vong, nay vẫn chưa rõ nguyên nhân. Từ thế kỷ XV tr. CN các bộ
    lạc du mục Arya từ Trung á xâm nhập vào ấn Độ. Họ định cư rồi đồng hóa với người
    bản địa Dravida tạo thành cơ sở cho sự xuất hiện quốc gia, nhà nước lần thứ hai trên đất
    ấn Độ. Từ thế kỷ thứ VII trước Công nguyên đến thế kỷ XVI sau Công nguyên, đất
    nước ấn Độ phải trải qua hàng loạt biến cố lớn, đó là những cuộc chiến tranh thôn tính
    lẫn nhau giữa các vương triều trong nước và sự xâm lăng của các quốc gia bên ngoài.
    Đặc điểm nổi bật của điều kiện kinh tế - xã hội của xã hội ấn Độ cổ, trung đại là
    sự tồn tại rất sớm và kéo dài kết cấu kinh tế - xã hội theo mô hình "công xã nông thôn",
    trong đó, theo Mác, chế độ quốc hữu về ruộng đất là cơ sở quan trọng nhất để tìm hiểu
    toàn bộ lịch sử ấn Độ cổ đại. Trên cơ sở đó đã phân hóa và tồn tại bốn đẳng cấp lớn:
    tăng lữ (Brahman), quý tộc (Ksatriya), bình dân tự do (Vaisya) và tiện nô
    (Ksudra). Ngoài ra còn có sự phân biệt chủng tộc, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo.
    Điều kiện về văn hóa: Văn hóa ấn Độ được hình thành và phát triển trên cơ sở điều
    kiện tự nhiên và hiện thực xã hội. Người ấn Độ cổ đại đã tích lũy được nhiều kiến thức
    về thiên văn, sáng tạo ra lịch pháp, giải thích được hiện tượng nhật thực, nguyệt thực... ở
    đây, toán học xuất hiện sớm: phát minh ra số thập phân, tính được trị số π, biết về đại
    số, lượng giác, phép khai căn, giải phương trình bậc 2, 3. Về y học đã xuất hiện những
    danh y nổi tiếng, chữa bệnh bằng thuật châm cứu, bằng thuốc thảo mộc.
    Nét nổi bật của văn hóa ấn Độ cổ, trung đại là mang dấu ấn sâu đậm về tín
    ngưỡng, tôn giáo. Văn hóa ấn Độ cổ, trung đại được chia làm ba giai đoạn:
    12

    a) Khoảng từ thế kỷ XXV - XV tr. CN gọi là nền văn minh sông ấn.
    b) Từ thế kỷ XV - VII tr. CN gọi là nền văn minh Vêda.
    c) Từ thế kỷ VI - I tr. CN là thời kỳ hình thành các trường phái triết học tôn
    giáo lớn gồm hai hệ thống đối lập nhau là chính thống và không chính thống.
    Hệ thống chính thống bao gồm các trường phái thừa nhận uy thế tối cao của Kinh
    Vêda. Hệ thống này gồm sáu trường phái triết học điển hình là Sàmkhya, Mimànsà,
    Védanta, Yoga, Nyàya, Vai'sesika. Hệ thống triết học không chính thống phủ nhận, bác
    bỏ uy thế của kinh Vêda và đạo Bàlamôn. Hệ thống này gồm ba trường phái là Jaina,
    Lokàyata và Buddha (Phật giáo).
    Triết học ấn Độ cổ đại có những đặc điểm sau:
    Trước hết, triết học ấn Độ là một nền triết học chịu ảnh hưởng lớn của những tư
    tưởng tôn giáo. Giữa triết học và tôn giáo rất khó phân biệt. Tư tưởng triết học ẩn giấu
    sau các lễ nghi huyền bí, chân lý thể hiện qua bộ kinh Vêda, Upanisad. Tuy nhiên, tôn giáo
    của ấn Độ cổ đại có xu hướng "hướng nội" chứ không phải "hướng ngoại" như tôn giáo
    phương Tây. Vì vậy, xu hướng trội của các hệ thống triết học - tôn giáo ấn Độ đều
    tập trung lý giải và thực hành những vấn đề nhân sinh quan dưới góc độ tâm linh tôn
    giáo nhằm đạt tới sự "giải thoát" tức là đạt tới sự đồng nhất tinh thần cá nhân với tinh thần
    vũ trụ (Atman và Brahman).
    Thứ hai, các nhà triết học thường kế tục mà không gạt bỏ hệ thống triết học có
    trước.
    Thứ ba, khi bàn đến vấn đề bản thể luận, một số học phái xoay quanh vấn đề "tính
    không", đem đối lập "không" và "có", quy cái "có" về cái "không" thể hiện một trình độ tư
    duy trừu tượng cao.
    Nhận định về triết học ấn Độ cổ, trung đại
    Triết học ấn Độ cổ, trung đại đã đặt ra và bước đầu giải quyết nhiều vấn đề của
    triết học. Trong khi giải quyết những vấn đề thuộc bản thể luận, nhận thức luận và nhân
    sinh quan, triết học ấn Độ đã thể hiện tính biện chứng và tầm khái quát khá sâu sắc; đã
    đưa lại nhiều đóng góp quý báu vào kho tàng di sản triết học của nhân loại.
    Một xu hướng khá đậm nét trong triết học ấn Độ cổ, trung đại là quan tâm giải
    quyết những vấn đề nhân sinh dưới góc độ tôn giáo với xu hướng "hướng nội", đi tìm
    cái Đại ngã trong cái Tiểu ngã của một thực thể cá nhân. Có thể nói: sự phản tỉnh nhân sinh
    là một nét trội và có ưu thế của nhiều học thuyết triết học ấn Độ cổ, trung đại (trừ trường
    phái Lokàyata), và hầu hết các học thuyết triết học này đều biến đổi theo xu hướng từ vô
    thần đến hữu thần, từ ít nhiều duy vậ...
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách sẽ học hỏi được kinh nghiệm của những vĩ nhân

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TH&THCS HÀNG TRẠM - YÊN THUỶ - PHÚ THỌ !

    💕💕MỖI HỌC SINH BIẾT YÊU SÁCH LÀ 1 HẶT MẦM VĂN HOÁ ĐƯỢC GIEO TRỒNG. THƯ VIỆN LÀ TRÁI TIM HỌC THUẬT CỦA NHÀ TRƯỜNG 💕💕